Sáu người đi khắp thế gian hay Những người trẻ trôi dạt

Bài chỉnh sửa và thu gọn đã đăng trên mann up, ở đây tôi up lại bản đầy đủ bao gồm cả giới thiệu và cảm nhận về cuốn sách, có một chút tiết lộ nội dung, một quyến sách hay, đáng đọc cho tất cả những ai còn trẻ, còn đang muốn đi, trải nghiệm, và thấy cô đơn lạc lõng trong cuộc sống này.

————————————————————————-

photo_04_hiresThế giới nửa sau thế kỉ 20 đầy rẫy những vấn đề, chiến tranh Việt Nam, xung đột giữa người Ả Rập và Do Thái, chế độ nô lệ da đen chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, chiến tranh lạnh… Chính thế đã sản sinh ra một thế hệ lạc lõng, không có niềm tin vào chính quyền, vào những cuộc chiến tranh được rao giảng đầy đạo đức giả, không có chỗ đứng để tự khẳng định mình, không hòa hợp với thế hệ cũ của bố mẹ, cha ông với những luân lý đạo đức cũ rích về hạnh phúc, về tình yêu, tình dục. Họ bối rối và bất an. Họ trốn lính, thù ghét chính trị, bỏ gia đình, bối rối với những lựa chọn cho tương lai… Họ, được đúc rút lại qua 6 chân dung, 3 nam, 3 nữ, họ đến từ nhiều quốc gia khác nhau, cùng gặp nhau tại địa điểm ăn chơi số 1 của tuổi trẻ Torremolios – Tây Ban Nha. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, nhưng cùng đi trên một cuộc hành trình, khám phá thế giới, khám phá chính bản thân mình, để thấu hiểu hơn những vấn đề đang tồn tại ở khắp nơi, để tìm con đường đi cho mình, có người tìm được, có người không, nhưng đó là một hành trình “phải đi” của họ, của tất cả chúng ta. Continue reading

Advertisements

New York Trilogy (Trần trụi với văn chương) – Paul Auster

433Lâu lắm tôi không đọc sách gì một cách trọn vẹn, một phần vì lười, một phần vì bận rộn mệt mỏi, một phần vì tôi xem phim nhiều hơn, và một phần khác tôi không thể tập trung dán mắt vào câu chữ của người khác khi những câu chữ của chính mình mà tôi muốn nói về tình yêu của tôi nó cứ đầy ắp và đè lên mọi chữ nghĩa của người khác. Tôi đọc thêm được vài chục trang 1Q84 quyển 3 của Murakami, tiếp tục nhai nốt món ăn khó nuốt “phê phán lý tính thuần túy” của Emmanuel Kant – một triết gia người Đức, đọc vài trang quyển Thiết kế đô thị cho chuyên ngành của mình mà cũng không thể nuốt nổi, rồi tôi thử những thứ dễ nhai hơn, tôi thử đọc Phế Đô của Giả Bình Ao, đọc lại tập tản văn của Marai Sandor, tiếp tục nghía thêm vào quyển “6 người đi khắp thế gian” của James Michener… Tôi cứ lang thang hết quyển này đến quyển khác, để rồi lại bỏ dở, lại để chúng lơ lửng đâu đó trong đầu, giống như kiểu tôi muốn mua cho mình đôi giầy, nhưng cứ vào đến tiện nào tôi cũng lắc đầu và đi ra, nhanh chóng, ngán ngẩm và buồn bã. Cho đến khi tôi bắt gặp New York Trilogy của Paul Auster, bản tiếng Việt dịch bởi Trịnh Lữ với tựa “Trần trụi với văn chương”, tôi lại vào thử, và tự nhiên tìm được đôi giày vừa khít với cái duy cảm của mình, tôi mua nó, đi nó, một chút sướt sát ở mắt cá chân vì giầy mới, nhưng rồi mọi thứ cũng trở nên thuần và dễ chịu hơn. New York Trilogy đã trở thành quyển sách đầu tiên tôi đọc xong sau quá nhiều sự dang dở nối tiếp dang dở. Continue reading

The Clown – Cuộc đời này có ai không phải là một anh hề?

Có lẽ trong mọi thời đại, sự tự do của mỗi cá nhân luôn luôn xung đột với những nền tảng đạo đức tự phong của xã hội, và hơn thế nữa, nếu cái xã hội mà cá nhân đó tồn tại còn bị kìm kẹp ngoài những “giáo quy” của đời sống, nó còn bị những giáo điều của tôn giáo kìm kẹp. Những giáo quy và giáo điều đó khiến cho sự tự do theo cách mà một cá tính nào đó muốn luôn luôn giống như chiếc diều không thể bay thoát khỏi sợi dây của mình để rồi cứ phải đứng một chỗ, nương theo chiều gió, nếu không còn gió nữa thì rơi rụng vào chính nỗi cô đơn và sự khắc khoải của chính mình, và rồi tự diệt.

ImageSự xung đột đó là điều khiến cho những tác phẩm viết về chủ đề này luôn luôn có giá trị mang đến sự chạm mạnh vào tâm hồn của những người đọc, mà sự cô đơn và ước muốn trốn thoát khỏi đời sống vô cùng mạnh mẽ và buồn bã. Tiểu thuyết The Clown (Opinions of a clown – Dưới cái nhìn của một anh hề) của nhà văn Đức Heinrich Boll đã chạm mạnh vào tâm hồn tôi bởi một câu chuyện như thế. Câu chuyện về một người nghệ sĩ chuyên diễn hề trên sân khấu, nhưng thật ra ai chẳng là anh hề, chẳng là một kịch sĩ trong vở kịch lớn u buồn là cuộc đời này. Một anh hề 27 tuổi sinh ra ở Bonn, phải đi diễn ở khắp nơi trên đất nước trong thời Hitler đến sau thời kì Hậu Chiến ở Đức. Cùng với người mình yêu – một người theo đạo Cơ Đốc Giáo luôn luôn bị ám ảnh bởi tội lỗi mình mang khi chung sống như vợ chồng với anh khi chưa cưới. Và khi một tai nạn nghề nghiệp xảy ra, a bị xã hội chán ghét và cười mỉa mai lên sự nghiệp của anh bởi một bài báo dìm anh đến tận cùng, anh quay về Bonn trong thương tật cả thể xác và tâm hồn. Ở đó, tại quê nhà của mình, trong căn phòng của mình chỉ trong vài tiếng đồng hồ là một sự hồi tưởng đầy hằn học, mỉa mai về quá khứ với gia đình, bạn bè, những mối quan hệ xã hội, đan xen đó là sự kết nối một cách tuyệt vọng với thế giới bên ngoài hòng mong cứu giúp anh thoát khỏi cảnh thương tật và cùng quẫn đang ám thị đầu óc anh với sự trống rỗng đến đau lòng.

  Continue reading

Người đẹp ngủ mê

Image

Mấy hôm nay mất ngủ, nhưng trong tình trạng đấy tôi lại không thể nhồi vào đầu Emmanuel Kant với tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” do Bùi Văn Nam Sơn dịch, vì cái cảm giác mất ngủ của tôi gần đây khá khó chịu, nó kéo theo sự căng thẳng đầu óc, vị giác cũng cứ rệu rạo thành ra việc đọc triết học những lúc đó thật chẳng khác gì xem một tấm ảnh bị out focus, chẳng rõ chụp về cái gì. Tôi lại loanh quanh tìm truyện ngắn gì đó để đọc, đọc 1 vài chuyện ngắn của Sekhop, ngày xưa rất thích đọc truyện ngắn của các nhà văn Xo Viết như Gaia, Pautovski… nhưng tôi có cái dở là đọc truyện ngắn thì rất khó nhớ, vì trí nhớ ngắn hạn của tôi rất kém, nếu câu chuyện quá ngắn thì tôi thường không lưu được vào não mình. Có một đêm tôi mơ mình là Murakami đang đọc Kawabata, vậy là tôi lại tìm đọc lại “house of the sleeping beauties” của ông, một câu truyện tôi đã rất thích nhưng có lẽ cái thích lúc đấy và cái thích lúc này nó khác nhau nhiều lắm. Vì cái thời tôi đọc, chỉ là một cậu học sinh đọc tất cả những gì mình có, đọc như để nhồi nhét vào đầu mọi thứ đẹp đẽ mà các nhà văn trên thế giới mang vào trang sách, để thoải cái trí lang thang bằng đầu óc qua các kiếp người, từ Jean ValJean, đến Lucien, d’Artagnan, rồi ông già Eguchi trong truyện của Kawabata. Continue reading

Lời hứa lúc bình minh

Image

“Tôi vốn là kết thúc có hậu của mẹ tôi.” – Gary Romain đã kết thúc cuốn tự truyện “Lời hứa lúc bình minh” của mình như thế. Quả đúng thật, là một nhà văn danh tiếng, một nhà ngoại giao tài giỏi, một nhà quý tộc đúng nghĩa, Gary Romain đã biến tất cả những ước mong của một người mẹ đặc biệt trở thành  hiện thực. Tự truyện mà không phải tự truyện, tiểu thuyết mà không đúng nghĩa là tiểu thuyết, hồi ký lại càng không phải là hồi kí, “Lời hứa lúc bình minh” là một câu chuyện tuyệt vời với giọng văn vô cùng giản dị mà lôi cuốn, chân thực mà rất giàu chất thơ, kể về cuộc đời mình mà nhân vật chính nổi lên như một nhân vật  tiểu thuyết, một nhân vật tiểu thuyết gần gũi đến mức chân thật vô cùng. “Lời hứa lúc bình minh” là một minh chứng cho một nhân cách lớn, một nhà văn không phải gốc Pháp nhưng mang đầy đủ đặc trưng của một dân tộc mà văn học luôn luôn nằm ở đỉnh cao của thế giới, trau truốt, đơn giản, đầy triết lý và đậm tính nhân văn. Và có lẽ trong tất cả những tác phẩm viết về mẹ thì cuốn tự truyện này là cuốn viết về người mẹ hay nhất, có lẽ vì người mẹ của Romain thực sự là một hình mẫu lý tưởng của tình mẫu tử.

 

Có nhiều thứ tình cảm được định danh trên đời nhưng có lẽ không có gì thiêng liêng bằng tình mẫu tử. Vì tình mẫu tử mà người mẹ sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho con, hy sinh hết thảy vì con mà đôi khi dẫn đến cực đoan bằng việc không bao giờ cho đứa con được lớn, luôn luôn dang rộng đôi cánh để chở che, đùm bọc, luôn sợ con bị thiệt thòi, bắt nạt, luôn sợ mất con mà không dám thả con vào đời. Mẹ của nhà văn có đầy đủ những đặc điểm đó của một tình mẫu tử, nhưng bên cạnh đó thì cái cách một người phụ nữ cô đơn, khốn khổ, bị bỏ rơi thể hiện tình mẫu tử và cách bà nuôi dậy Romain thật sự là một hình tượng đặc biệt. Cách yêu con của bà thật kì lạ theo những cách hiểu thông thường.

 

Là một người phụ nữ đơn độc, nghèo khó, phải bươn trải đủ thứ nghề để kiếm sống nhưng không vì thế mà bà chịu để cho con bà chịu thiệt thòi trong nhận thức, thua thiệt trong giáo dục. Là một người mê nước Pháp say đắm, luôn luôn muốn được thành một phần của giới quý tộc Pháp, bà đã nhồi vào đầu con trai mình những hình ảnh mơ mộng nhất, tốt đẹp nhất của nước Pháp, đất nước của Victo Hugo, của Rimbaud, của tướng De Gaulle. Nước Pháp hiện ra trong trí tưởng tượng của bà là một đất nước chân quý, đất nước của những con người tuyệt vời nhất, những tính cách tốt đẹp nhất. Cái điều đó đi với bà tạo trên mắt bà một cơ chế tự vệ hảo hạn khi mà cuộc sống ban đầu của bà ở Nice – miền nam nước Pháp rất khó khăn, hay ngay cả khi nước Pháp thua trận và đầu hàng quân Đức thì cái tình yêu một cách mù quáng và lý tưởng dành cho nước Pháp trong bà không bao giờ mất đi. Và cái nước Pháp – quê hương của bà ở thì tương lại đấy chính là lực đẩy, là đích đến là mảnh đất của văn thơ, của quý phái, của những người đàn ông đích thực để cho bà khiến một đứa trẻ bình thường trở thành một cá nhân nổi tiếng. Và dường như bà đã định hướng cho con mình theo mọi lĩnh vực hòng mong tìm ra một tài năn thiên phú nào đó ở con mình để khiến nó trở thành một cá nhân kiệt xuất đặc biệt là 2 lĩnh vực chính trị và nghệ thuật. Có 2 thứ bà muốn con trai mình trở thành sau này là một vị đại sứ Pháp và một nhà văn danh tiếng của Pháp. Và cuộc đời của Romain thực sự là một minh chứng rõ nhất cho chữ Nghiệp của đạo Phật. Bà muốn con trai bà trở thành như vậy nhưng bà không ngồi im mà cầu nguyện. Mọi thứ đã được bà vạch ra một cách thấu đáo đôi khi hơi thái quá. Để trở thành một vị đại sứ bà đã dạy con mình cung cách của giới thượng lưu, cung cách đối xử với phụ nữ, cách ăn nói đi đứng… và cả các cách bà sang Pháp nhập quốc tịch cho con, rồi làm đủ mọi nghề để kiếm sống nhưng không bao giờ để con trai thiệt thòi, để nó đói, để nó thấy mẹ nó thiếu thốn, rồi bà cho đi học sĩ quan, học trường luật… Rồi để thành một nhà văn, bà luôn khuyến khích cũng như tạo mọi điều kiện cho con được yên tĩnh viết, cái sự tha thiết mong muốn con trở thành một nhà văn danh tiếng nó thể hiện rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi trở thành một nỗi ám ảnh trong ông

 

 “Tôi thấy mình phải khẩn trương lên, phải nhanh chóng viết kiệt tác văn học bất hủ. Kiệt tác đó, khi biến tôi thành Tolstoi trẻ nhất mọi thời đại, sẽ cho phép tôi bù đắp ngay những khó khăn, vất vả của mẹ, tôn vinh ngay cuộc đời mẹ.”.

 

Người mẹ của Romain thực sự là một người hoạch định thiên tài, một người biết nuôi dưỡng và hình thành nên một người tài giỏi. Một người mà việc biến con mình thành một hình mẫu mong ước là lẽ sống tron đời.

Có lẽ cái cách mà bà muốn con trai mình phải chinh phục được những cô gái đẹp nhất, quý phái nhất, danh giá nhất như một cách để thể hiện sự thành công trong cuộc sống của một người đàn ông thực thụ thật sự đặc biệt. Chẳng thế mà khi Romain là người duy nhất không được cấp quân hàm trong khóa huấn luyện phi công, ông sợ sự thất vọng của mẹ ông sẽ khiến mẹ ông suy sụp và ông đã nghĩ ra được một lý do tuyệt vời, một lý do chỉ có thể nghĩ ra bởi một người hiểu quá rõ mẹ mình như nào. Ông bảo rằng ông ngoại tình với vợ sĩ quan chỉ huy nên đã bị đánh trượt. Và quả vậy, không những bà không phiền lòng mà còn lấy làm hãnh diện, hãnh diện vì người con trai mình đã vượt cả chỉ huy mà chiếm được tình cảm của vợ ông ấy. Cái cách bà mẹ muốn ông trở thành một người mạnh mẽ và nam tính như một hình ảnh phản chiếu người đàn ông bội bạc nhưng mạnh mẽ đã bỏ bà đi nhiều năm trước đã khiến Romain luôn là một người dám làm mọi thứ vì phụ nữ một cách quả quyết và can đảm. Như hồi bé khi muốn lấy lòng cô bé Valentine ông sẵn sàng ăn mọi thứ để thể hiện mình, ăn giun, bướm, thậm chí ăn cả giày… Tôi lại liên tưởng đến người mẹ của Florentino Ariza, dù biết rằng tình yêu của con trai mình với Fermina Daza là mù quáng, là đau khổ, nhưng bà luôn luôn ủng hộ con trai mình, mỗi khi nỗi đau thương của anh cuộc trào thành những dòng nước mắt, bà mẹ lại ôm con vào lòng không hề trách móc, không hề mắng nhiếc về tình yêu tuyệt vọng của con mình, và tôi nghĩ cái cách mà người phụ nữ – người mẹ nuôi dưỡng tình yêu của con trai mình như thế thật đặc biệt, vượt lên trên tình cảm chiếm hữu của cái tôi thường có của những người mẹ khác.

Romain bằng nghị lực của mình, bằng sự sắc sảo trong cuộc sống, bằng tình yêu thương mẹ một cách trọn vẹn, bằng sự thấu hiểu tất cả những hy sinh mà người mẹ vĩ đại của ông đã dành cho ông, ông đã làm được tất cả những điều mà bà mong ước con trai bà đạt được. Tình mẫu tử của 2 người đã trở thành như một hình mẫu lý tưởng trong cuộc sống vậy.

 

Tôi đã nhiều lần nhìn thấy quyển này và thích cái bìa của cuốn sách nhiều nhưng cứ chần chừ không mua cho đến khi cô bé bạn tôi giới thiệu một cách tâm đắc thì tôi mới đưa ra quyết định mua và đọc. Và quả thực câu chuyện của ông đã cuốn hút tôi hoàn toàn, tình yêu mà người mẹ của ông dành cho ông chẳng khác gì cách yêu thương con một cách cực đoan mà mẹ tôi dành cho tôi, có lẽ tình mẫu tử dù ở bất cứ đâu đều có một mẫu số chung mà những ngoại lệ chỉ xảy ra do vị trí địa lý, do khác nhau về mặt nhận thức xã hội, khác nhau về những giá trị truyền thống, và khác nhau về hoàn cảnh sống nữa. Mẹ của Romain thật sự đặc và lý tưởng nhưng xét cho cùng thì ở nhiều khía cạnh khác mẹ tôi cũng thực sự đặc biệt và lý tưởng, cái cách mẹ tôi trở thành lý tưởng không nằm ở cách mẹ tôi tạo ra con người tôi với những phẩm chất như bây giờ, mà là cái cách mẹ đối nhân xử thế để khiến những đứa con như tôi nhìn vào và học cách làm người, cái cách mẹ tôi cưu mang người khốn khó, tìm mọi cách giúp đỡ, luôn luôn chìm trong suy nghĩ phải giúp người này người kia, cả cuộc đời không khi nào thôi làm những điều tốt đẹp nhất cho con cho cháu, thật sự hãy hỏi những người ơn nghĩa với bố mẹ tôi thì sẽ hiểu mẹ tôi cũng thật đặc biệt, và đối với tôi, ba mẹ chính là những người vĩ đại nhất trong cuộc đời mình. Có lẽ thế nên tôi có một sự đồng cảm rất lớn với Romain, và khiến tôi từ một kẻ không ưa đọc tự truyện đã trở nên đọc say sưa cuốn sách này. Nói vậy nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn chỉ là một kẻ lông bông còn làm chưa thành chữ Hiếu.

Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi

Tôi đặc biệt thích các chuyện tình, hay nói đúng hơn là cái cách mà đàn ông và đàn bà tiếp cận nhau và hấp dẫn nhau và lúc đó một ma lực giữa họ xuất hiện, mãnh mẽ nhưng đôi khi khốc liệt, nhưng không phải là các kiểu tình yêu truyền thống và cổ điển như Romeo and Juliet, Phạm Công Cúc Hoa, Noah và Allie tôi thích những chuyện tình kì quặc, họ yêu hay yêu nhau một cách không bình thường, họ đến hay không đến với nhau trong một bối cảnh không gian và thời gian nào đó đặc biệt, có thể là đơn phương, có thể là tình yêu trọn vẹn nảy sinh với rất nhiều sự trớ trêu của số phận, có thể chỉ là một một sự nảy sinh bất chợt khi người ta ở cạnh sườn của mình, như tình yêu của  Florentino Ariza dành cho Fermina Urbino. Mọi câu chuyện của Garcia đều sâu sắc và đặc biệt, đặc biệt không phải trong văn phong phong phú, bút lực dồi dào, mà đặc biệt ở cách kể, cách câu chuyện diễn biến, cách nỗi buồn của những số phận con người được viết ra, những câu chuyện của Garcia Marquez thật sự ám ảnh và sầu muộn. “Kí ức về những cô gái điếm buồn của tôi” là một tác phẩm như thế. Đẹp đến nao lòng, buồn đến não nề, một câu chuyện kể chậm rãi như nhịp thở của ông già 90 tuổi, nặng nề như bước chân ông, nhưng đẹp như khuôn mặt nhăn nheo của tuổi già.

 
Cả cuộc đời ông không có tình yêu, cả cuộc đời cho đến tuổi 90 chỉ có một dãy dài tên tuổi, của các cô gái điếm ông đã qua đêm, hơn 500 người, một danh sách dài không tình yêu chỉ có tình dục, chỉ có thứ phục vụ nhu cầu bản năng, không có thứ phục vụ nhu cầu về tinh thần, những nụ cười, những nụ hôn say đắm, những cái ôm ấp đam mê. Tôi cũng không hiểu, phải chăng những thứ không có tình yêu thì đều được đong đếm, được lưu trữ với những con số khô khan, những cái tên không còn nhớ mặt, trong truyện Tình yêu thời thổ tả, Florentina cũng có một danh sách cộng dồn như vậy, hay như bạn trai của một cô bạn tôi, người mà đã thành thật kể về đời sống tình dục của mình cho bạn gái cũng có một con số kha khá. Một nhu cầu cơ bản của con người, có người thì luôn luôn tìn cách để thoải mãn, cũng có người tìm cách kìm mình lại trong sự khổ hạnh của bản ngã như nhân vật chính với cô gái quày lễ tân trong Nhảy Nhảy Nhảy vậy. Đến tuổi 90, cái tuổi cái chết gần kề, ông muốn tìm một cái gì đó thật trái ngược với mình, một nguồn sông tươi trẻ, một sự thôi thúc mãnh liệt khiến ông đã yêu cầu bà Rosa Cabarcas – người chuyên đưa mối gái điếm tìm cho một một cô gái còn trinh để ân ái, như một món quà tự thưởng cho mình nhân ngày sinh nhật.
 
Và nằm đó trước mặt ông, một cô gái 14 tuổi đang trần truồng ngủ ngon giấc trong những giấc mơ mà nếu là một cô bé 14 tuổi có cuộc sống bình thường chắc hẳn phải rất đẹp. Cái sự trong trẻo đến nhợt nhạt của cô gái, sự  trong sáng tỏa ra từ lớp da trần trụi đã khiến ông không làm gì cả ngoài việc nằm cạnh đợi trời sáng, rồi đặt lên trán cô bé một nụ hôn vĩnh biệt, một đức tin muốn giữ lại sự trong trắng cho cô gái. Ông những tưởng vậy là xong, ông sẽ không bao giờ gặp lại cô gái nữa, nhưng có thứ gì đó đã được nhen lên trong ông khiến ông không chỉ gặp lại lần 2,3… tình cảm mà ông có với cô bé đã không còn đơn thuần là thái độ của khách hàng và người bán hàng nữa, đó là thứ gì đó hơn thế, tiệm cận với một tình yêu nở muộn, ông muốn giữ gìn sự trinh trắng của cô gái, muốn vun đắp cho cuộc sống cô gái, muốn cho căn phòng nơi ông và cô bé gặp nhau trở nên ấm áp và có tình người hơn là một không gian xác thịt, ông làm mọi thứ, bất chấp những khoản tiền mà ông dành dụm được đang vơi dần, ở ông sự cô đơn mà một ông già gặm nhấm trong 90 năm cuộc đời đang dần được bao bọc bằng một thứ tình yêu vượt qua tuổi tác, nằm ngoài mọi trải nghiệm, thứ tình yêu mà làm nỗi cô đơn càng thêm thấm thía, càng thêm đậm đặc. Garcia Marquez luôn như vậy, luôn lồng vào nỗi cô đơn bất tận của con người một tình yêu nằm trên sự vị kỉ, một tình yêu ban đầu là vị kỉ để rồi thoát khỏi và sẵn sàng hy sinh tất cả. Cái tình yêu mà một ông già ở tuổi 90 dành cho cô bé 14 dường như là bệnh hoạn và khó chấp nhận, và thực sự khó chấp nhận nếu xét trong những hệ quy chiếu thông thường của cuộc sống, nhưng nếu xét ở khía cảnh khác, nằm ở bản năng và cảm xúc thì thật đẹp, cái đẹp làm nở bung ra những tri kiến, định kiến của người đời, cái đẹp đến từ sự bi thương, đến từ bi kịch, thoát ra từ nỗi cô đơn sâu thẳm. 
 
Sự chênh lệch tuổi tác và môt tình yêu không công khai khiến ta liên tưởng đến người ta liên tưởng đến Lotita, một ông cha dượng yêu cô con gái còn đang tuổi dậy thì của vợ, nhưng ở Lolita tình yêu đó mang đầy dục vọng, một thứ tình cảm nảy sinh từ nhu câu xác thịt, từ bản năng mà Humbert không lúc nào thôi mơ tưởng đến thể xác của Lolita, còn trong câu chuyện của Marquez, tình yêu đó đã nằm ngoài nhu cầu tình dục, nằm ngoài những dục vọng, tình yêu thuần khiết của gần như là mối tình đầu, như khi ta muốn và chỉ muốn nhìn ngắm giấc ngủ của người yêu, rồi thiếp đi trong cái ôm nồng nàn, không hơn không kém. Hãy tượng tượng một căn phòng mà trước đây là nơi các cặp nam nữ đến giao hoan trong bóng tối, trong sự lén lút, mang đầy dục vọng và sự nhơ nhớp của một đời sống không lành mạnh, giờ đây dưới bàn tay trang trí của một ông già 90 tuổi có một bức tranh, có ít hoa, có sự sống, có ánh nắng rọi sáng những sớm mai, và trên cái giường nhỏ bé, một cô bé trần chuồng nhỏ bé nằm đó, ngủ say giấc nồng ngây thơ trong trắng, trên chiếc bàn tròn giữa phòng một ông già để tay lên cằm như bức tượng Người Suy Tưởng, nhìn ngắm và cảm thấy hạnh phúc…
 
Trong các tác phẩm của Garcia Marquez tôi đã đọc thì có lẽ đây là tác phẩm dễ đọc nhất, mỏng và câu văn không quá dài lê thê, nhưng không vì thế mà mất đi vẻ não lòng thường có về nỗi cô đơn, tình yêu được mô tả đầy bóng tối và bi kịch nhưng thật đẹp và trong trẻo, câu truyện về gái điếm nhưng không vì thế mà làm giảm đi nhân phẩm phụ nữ, mà còn tôn lên một điều gì đó thật đẹp mà tôi không thể lột tả, tôi chỉ cảm nhận được bằng tất cả giác quan, bằng kinh nghiệm non nớt, bằng những kí ức mập mờ đã lâu.
Một câu chuyện buồn, không phải nỗi buồn man mác của mùa thu, nỗi buồn nông cạn của những thời điểm ngắn, mà là nỗi buồn đã được tích tụ, vun đắp thành một ngôi mộ cô đơn khổng lồ, nỗi buồn đó có thể đến với bất cứ ai, bất cứ mảnh số phận nào trong cuộc đời, nhưng chẳng ai dám nghĩ đến, chẳng ai muốn, chẳng ai dám hình dung một bóng già cô đơn trong căn phòng nhỏ, một bóng già lẻ loi nhìn dòng đời chảy trôi trong công viên nhỏ, một ngôi nhỏ nhỏ trong nghĩa địa không nhang khói, không hương hoa. Nỗi buồn của những số phận trong truyện của Garcia marquez khác xa nỗi buồn của Murakami. Murakami đi vào cụ thể, đi vào nỗi buồn của bản ngã cái mà nó không tự sinh ra, không tự biến mất, nó cứ nằm đó trong bản thể như một quyển sách trên tủ sách, có thể được lấy ra bất cứ lúc nào và cũng có thể được cất đi. Còn nỗi buồn của Marquez là nỗi buồn của số phận, của định mệnh, đôi khi là nỗi buồn của cả thế hệ, nó làm ngoài sự tự tính của mỗi bản thể, nó được khởi từ những nguyên nhân không chỉ bên trong mà còn bên ngoài, nỗi buồn của Marquez là những con đường quốc lộ, còn nỗi buồn của Murakami là một thành phố.
Đặc biệt thích khuôn mặt của Garcia Marquez, đó là khuôn mặt vừa phóng túng, vừa đầy đau khổ, một khuôn mặt của một đời không ngừng sống hết mình.
Image

Phía Nam Biên Giới, Phía Tây Mặt Trời

Image

Đọc sách, thói quen đang dần dần mất đi cùng với việc thời gian bị lấp đầy bởi những thứ khác có vẻ vô vị hơn và phù phiếm hơn, có vẻ thế, theo như cách tôi nhìn từ bên ngoài. Nhưng tôi ngày càng tệ hại hơn, dễ dãi hơn với chính bản than mình, tôi kệ tôi làm những thư đó, để thời gian chìm đắm trong những trang sách bị thu hẹp lại một cách đáng chê trách. Khi chợt nhân ra điều đấy trong cái ngáp dài sau một giấc ngủ sâu đầy mông mị của buổi trưa trong cái lạnh lẽo của căn phòng tối ôm vì rèm và cửa ngăn cách với sự ấm áp của ánh mặt trời vào một ngày đông có nắng, tôi tóm lại một buổi chiều yên bình bằng cách giành tâm trí cho sách và nhạc, không HD, không camera, không internet. Một cốc café đậm đắc được pha, tôi chậm chạp, không vội vã đợi cốc café được vun cao sau những tiếng lách tách của từng giọt café loại đặc biệt mà tôi vô cùng thích, hoàn toàn đen và đặc gần như quánh lại, vị thơm của café nồng lên mũi tôi mang đến cho tôi một cảm hứng, một khoái cảm kì lạ, như một kẻ ngái ngủ đang dạo bước trên những cung đường chán ngắt chợt thoảng đâu đó trong không khí mùi hương của hoa sữa mùa thu Hà Nội, quyến rũ và mê hồn người. Một chất đen hoàn hảo để đánh lừa cái dạ dày vốn đã uống một cốc đầy café ban sang. Tôi đọc nốt quyển sách “phía nam biên giới, phía tây mặt trời” của Haruki Murakami mà tôi đã bỏ dở trong lần đọc lại cachs đây một toàn, tôi không biết tại sao tôi lại đọc lại nó, nhưng tôi sau khi nhìn khắp lượt cái tủ sách nghèo nàn của mình nơi mà có nhiều quyển tôi mua về nhưng chưa đụng đến thì tôi quyết định đọc lại quyển đó nhưng như đã nói bị bỏ dở sau hơn 100 trang.

Đọc sách trong khi nghe nhạc mang lại cho tôi một điều gì đó như là thiêng liêng và vô cùng đặc biệt, như trong một giấc mơ, tôi mơ thấy nàng múa, điệu múa kì lạ và quyến rũ, điệu múa mang đậm chất á đông phía trong những điệu nhạc thần thánh, múa mà không có nhạc đó phụ hoạ thệm vào thì sẽ ra sao, sẽ lạc lối và thiếu cảm xúc nhiều lắm. Nên bất cứ lúc nào có thể tôi luôn muốn bật nhạc trong khi đọc sách, chính vì điều mà tôi cảm thấy và mong muốn đó nên tôi luôn thận trọng chọn cho mình một loại nhạc nào đó vừa hợp với môi trường, vừa đồng điệu với cảm xúc lúc đó của tôi đồng thời, không bị sai lệch so với nội dung của cuốn sách mà tôi đã biết qua mà tôi cho rằng thế là hợp. Nhưng thông thường sẽ là giai điệu cực kì nhẹ và sâu xa của Trịnh Công Sơn được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, hoặc những bản concerto của Rachmaninov, Beethoven và đặc biệt là Requiem của Mozart… Tôi thường không sử dụng Rock làm nền cho cảm xúc được trút ra từ những trang sách, tôi cảm thấy điều đó như việc sử dụng những màu nóng cho một bức tranh phong cảnh vẽ về một cách đồng trải dài trong một ngày thu êm đềm đầy nắng, rock hút cảm xúc tôi quá mạnh để tôi có thể tập trung hoàn toàn vào quyển sách. Nhưng lần này tôi chọn Rock để them gia vị cho cảm xúc tôi sẽ có với quyển sách. CD soundtrack phim The Wall của Pink Floyd. Đây không phải là một sự lựa chọn mang tính ngẫu nhiên. Một sự kết hợp kì lạ của cảm xúc được phát triển từ đôi tai và xúc cảm được lan toả từ đôi mắt. Đôi khi, 2 luồng cảm xúc đó đánh nhau, còn đâu phần lớn là một sự hoà hợp kì lạ. Thỉnh thoảng tôi dừng mắt đọc để nhắm lại và hát vang lên một đoạn cao trào nào đó, đôi khi tôi lại dừng tai lại tập trung tâm trí vào một câu văn nào đó mà tôi muốn nó trở thành của mình. Một sự gặp nhau kì lạ của những kẻ sống cô độc dù cho xung quanh mình nếu nhìn bằng đôi mắt thường là một sự dàn ra lớn lao của tình yêu, Pink – ca sĩ nhạc Rock, Hajime – chủ quán bar và tôi – một kẻ thanh niên nhạt nhoà trong một thành phố sắp ngàn năm tuổi.

 Cuộc đời tôi đầy những thứ không thực, hay thực chỉ ở trong thế giới của tôi, ngay cả lúc này đây, khi tôi gặp gỡ những tâm hồn cô độc như thế trong sách trong âm nhạc. Tôi luôn muốn tránh xa cái sự ảo đầy mê hoặc của internet nhưng tôi không chịu hiểu rằng cái ảo đó thực ra nằm trong chính cách cảm nhận thế giới của tôi, cách tôi muốn đồng điệu tâm hồn, gần gũi con người của tôi. Tôi từng yêu một người ảo, một con người với một bộ khung cơ bản, tôi đã tự nhào nặn, tự vễ các hoạ tiết cho áo quần, tự cho phép trí tưởng tượng của mình hình dung những tính cách, mang cho hình hài đó một bản chất mà tôi biết tôi sẽ yêu vì điều đó chứ không chỉ vì cái vẻ đẹp vật chất trần tục bên ngoài. Hajime đã như thế, cái hiện thực mà Murakami vẽ ra cho anh khi anh gặp Shimamoto-san dường như rất thực, con người, thân xác, từng cái động chạm nhỏ, những khoảng thời gian chờ đợi nặng nề dài dẵng, và cuộc làm tình đầy đam mê, anh đã bỏ lại cái thực tại đầy hạnh phúc bình yên của mình bên người vợ và hai con để lao vào mối tình đó với Shimamoto-san, người duy nhất có khả năng lấp đầy cái khoảng trống mà như một cái giếng cạn mà anh đã có kể từ khi rời cô khi 12 tuổi, tôi đã hình dung ra cái cảm giác trống rỗng của anh khi anh sống cuộc sống của một người chồng, cha bình thường và thành đạt, cái cảm giác thiếu hụt mà chỉ có cách tự mình nhào nặn ra một hình hài của chính bản than mình thì mới có thể bù đắp được, đọc Murakami cảm giác của hiện thực và ảo xen lẫn nhau, hoà vào nhau, ranh giới của hai thứ đó đôi khi không thể tách bạch, “phía nam biên giới, phía tây mặt trời” có lẽ là quyển sách thực nhất của ông nhưng cái cảm giác đó vẫn không khỏi khiến tôi băn khoăn và ngờ vực. Vậy thì có gì mà băn khoăn ngờ vực khi tôi tự cho vận vào tôi cái hình ảnh của Hajime và Shimamoto-san. Cô đã không thể vượt qua một cái ranh giới mơ hồ nào đó như một hang rào kẽm gai mà cô k thể trèo qua trong khi Hajime đã sẵn sang từ bỏ tất cả để chạy theo cái mà có thể lấp đầy chỗ trống trong tâm hồn anh, tôi cười nhẹ, nụ cười mỉa mai vào Hajime khi tôi nghĩ anh đòi chạy trốn khỏi thực tại để chui vào cái thế giới ảo mộng nơi những thứ xung quanh phần lớn là do anh tạo ra, không, dù gì thì mộng ảo mãi mãi có chỗ giành cho nó nhưng không phải có thể can thiệp một cách thô bạo vào cuộc đời thực.

Cái sự cô độc mà Pink có không giống như sự cô độc của Hajime, ở Pink đó là sự cô độc mà anh tự nhốt mình trong bức tường của chính mình nơi mà sự ruồng bỏ của xã hội không thể chạm tới, nơi anh sống với trí tưởng tưởng đên tối của mình về một thế giới bất ổn, kiêu ngạo, hèn nhát và tăm tối. Hình ảnh của tôi mà tôi nhìn thấy trong bản thể của Pink đó là sự tự co rút mình khỏi xã hội, sự thiếu niềm tin mãnh liệt vào cái xác xã hội mà tôi là một tế vào trong đó. Tôi đã không bật album này theo lối thong thường chạy track theo thứ tự câu chuyên, tôi để suffle. Để cho thực tại, quá khứ, tương lại của Pink xuất hiện không theo trình tự nào, đan xen thành một mớ mà với điều đó câu chuyện của Pink sẽ trở nên rời rác và nhạt hơn cho tôi tập trung vào câu chuyện của Hajime. Khi những track “in the flesh, mother, outside the wall” được vang lên chính là lúc trên con đường tôi đi theo Hajime, tôi đã dừng chân lại bên đuờng để trầm tư về chính bản than tôi. Về sự cô độc mà tôi đang cảm thấy một cách trọn vẹn.

Cái sự cô độc ở trong tôi, như hình ảnh cái giếng sâu xuất hiện nhiều lần trong các tác phẩm của Murakami đó chính là dục vọng lớn nhất mà tôi chưa khám phá ra được, cái dục vọng còn nằm sâu, tăm tối, tôi chuă thể dung một dụng cụ gì đó để lấy lên cũng như không đủ khả năng để trèo xuống. Cái dục vọng vô bờ đó, đầy hăm dọa đó chính là thứ khiến cho tôi chưa bao giờ có một người bạn thực sự nào như Hajime và Shimamoto-san. Tôi đã từng có những người bạn gái rất tuyệt vời, những người mà sẵn sang đi với tôi trong đêm khuya, sẵn sang nghe tôi nói một cách đầy nhiệt huyết, nhưng rồi cái hang sâu của tôi, hay như hình ảnh cái giếng của Murakami khiên cho không một giới hạn nào bị vượt qua, và khi đó một cái gì đó trong tôi bị tuột ra và tôi đi mất hay đôi khi người con gái đó đi mất. Chẳng có gì nuối tiếc – đó là cảm giác mà tôi tin rằng chẳng hay ho gì. “Tôi đã kiềm chế, tôi đã kiềm chế để được ở lại trong một thế giới thiếu sinh khí, hoang vắng như bề mặt mặt trăng” Hajime đã nói thế. Và tôi cũng đã cảm thấy mình như thế. Tôi ích kỉ yếu đuối, nhạy cảm và đơn giản.

“Dù cho ấy có đang ở bên ai thì cũng chỉ là một mình” tôi khôgn thể quên được câu này, vì thực sự ngay lúc này đây tôi đang như thế. Thân xác ở một nơi, còn cái tâm hồn lại bây đến một chân trời nào đấy nằm ngoài tầm kiểm soát của ngay bản thân tôi. Ai, ai có thể như Shimamoto-san giúp tôi rọi sang cái hang tăm tối, hay làm đầy nước giếng cạn, hoặc giả lấp lại cái giếng tối tăm sâu thẳm.

Nhảy Nhảy Nhảy

Âm nhạc, tôi có một cảm hứng mãnh liệt với âm nhạc, tôi thường nghe nhạc bất cứ khi nào có thể, khi còn chưa biết đến internet chỉ có cái radio nhỏ sony bố cho, tôi cứ để nó cả đêm kênh âm nhạc của vov3, hoặc một kênh nhạc nào đó tôi dò được ở đài AM. Còn khi có laptop, internet, với tai nghe tôi thường đeo nó rồi bật nhạc lên vừa nghe Rock, thậm chí Black Metal và chìm trong bóng tối để ngủ. Giờ thì k chỉ doxn nhạc về ở những tracker chuyên về nhạc nữa, tôi thường bật TuneIN radio trên ipad, hoặc chọn kênh radio qua last.fm và spotify và cứ để dòng chảy âm nhạc tuôn trài qua tai rung động những dây thần kinh thính giác như tiếng đàn hạc ru ngủ thủy thủ đoàn của nàng tiên cá. Chính vì vậy mà đọc Nhảy Nhảy Nhảy tôi có một sự đồng cảm với nhân vật chính một cách thật đặc biệt. Nhảy Nhảy Nhảy của Haruki Murakami, nhà văn mà văn chương của ông vừa siêu thực lại vừa gần gũi, bị lặp lại qua từng tác phẩm mà vẫn lôi cuốn.

Tự tôi tôi không chọn đọc quyển này vì trước đó tôi đã tự nhủ sau khi đọc Kafka bên bờ biển, Biên niên kí chim vặn dây cót, người tình Spunik… những cuốn đã đưojc dịch và xuất bản trước đó rằng tôi sẽ dừng đọc Murakami, vì tôi nhận thấy một văn phong không mới, những câu chuyện không còn đủ sức mê hoặc bởi tính siêu thực dường như đồng dạng nhau trong từng truyện. Tôi đã nói điều đó với một cô bạn, cô ấy biết và hiểu tôi, vậy mà vẫn giới thiệu cho tôi nhảy Nhảy Nhảy mà theo như cô ấy tôi sẽ thích, tôi sẽ tìm thấy nhiều thứ không chỉ đơn giản là một câu chuyện không có cốt chuyện thường gặp… Tôi tìm mua, và cũng thật kì là tôi không mua được, hết hàng đại loại thế, một cô bé khác bạn tôi biết tôi tìm quyển đó và tôi không ngờ cô bé đấy lại lưu lại điều đó trong sổ nhớ và mua được cho tôi trước khi tôi lại để thân thể mình lên chuyến máy bay của Korean Airline sang Pháp, nhưng như nhà Phật thường nói, phải tùy duyên, tôi đã k kịp nhận sách, tôi luôn luôn thích những sự kiện được tạo thành bởi một tập hợp những điều tưởng như không thể, như cái cách một cách bướm ở rừng râm Amazon đập cánh có thể khiến gây ra một cơn bão ở biển Thái Bình Dương vậy. Và bây giờ khi nghĩ lại tôi nghĩ rằng vì sự lệch pha cảm xúc, hay sự chưa chín muồi của thời điểm nên tôi chưa có duyên có nó, cho đến tận hơn nửa năm sau, và nếu như không có những biến cố không thể tưởng tượng ra sẽ xảy đến với mình thì tôi cũng sẽ k thể có quyển sách đấy sớm vậy. Mọi thứ quan hệ và gắn kết với nhau để tạo ra một cái kết quả đơn giản, từ một quyển sách đến kết thúc một quyển sách, như câu chính câu chuyện của Murakami trong Nhảy Nhảy Nhảy, để nhân biết được rõ ràng cái gì mình cần, mình không muốn mất mà lần đầu tiên gặp mặt đã khơi lên những cảm giác, như những vụn bọt đang nổi trên mặt nước báo hiệu một biến cố nào đó sắp xảy ra, nhân vật chính đã phải đi vòng một quãng đường khá dài, đầy bối rối để quay lại cái điểm đầu tiên mà anh đã biết a sẽ quay lại, anh sẽ không còn đánh mất nữa, sẽ không để điều cảm nhận tan biến vào bức tường tối đen bên trong mình.

Vấn là một câu chuyện siêu thực khác của Murakami, cái lối viết dường như có đôi chút nhàm chán, để kể về một câu chuyện không có cốt chuyện, câu chuyện toàn những ám chỉ, những dẫn dắt mơ hồ, những mối liên hệ không rõ rằng, những nhân vật mờ nhạt trong cuộc đời nói chung nhưng đặc biệt trong thế giới chất đầy nỗi cô đơn, và quá nhiều tự tính của Murakami, một anh chàng chuyên “xúc tuyết” – cái hình ảnh ẩn dụ cho công việc viết báo của mình, viết tất tần tật mọi thứ, những thứ có cầu, những thứ tạo thành cung của các tạp chí, tòa soạn, một cô bé 13 tuổi vô cùng nhạy cảm đến mức có thể nhận biết được những năng lượng đặc biệt phát ra từ người khác, cô bé 13 tuổi con nhà giàu có nhưng không ai quan tâm, k có bạn, không đến lớp vì không thể hòa nhập vì quá xinh đẹp nhưng không bao giờ biết dùng nó, những cô gái điếm cao cấp có học, thông minh và biết chiều chuộng, người Cừu… luôn luôn là một bộ sưu tập những cá nhân bất thường. Thật ra thì mỗi người trong chúng ta ai cũng có những điều bất thường, kì quặc, chỉ có điều phải nhìn trong thế giới quan riêng của mình thì mới thấy, Murakami đã biết cách trộn 1 mớ các thế giới quan riêng thành một thế giới chung của những người phát chung một tần số sinh học để kết nối với nhau.

Nhắc đến âm nhạc ở trên không phải không có lý do, vì Nhảy Nhảy Nhảy là một album nhạc khổng lồ của những năm 60,70s, không phải nhạc Nhật và là nhạc Mỹ, Mỹ thứ văn hóa dễ lan như cúm bệnh than nhưng không khiến người ta chết mà chỉ khiến người ta cảm thấy sức sống được chảy trong huyết mạch một cách rõ rằng. Từ đầu truyện đến cuối chuyện không phải chỉ có những con chữ nhảy múa trước mắt, mà còn là những giai điệu của Rock n’ Roll, classic Rock, Pop, Jazz, thâm chí cả Psychedelic nữa, không phải là thứ âm nhạc sẽ được truyền âm qua tai mà là thứ âm nhạc phát ra từ bên trong, từ kí ức, từ những đêm dài mất ngủ mải biết nghe radio, mải miết down nhạc rồi nghe, mải miết tìm cách nghe được nhạc trên last.fm, trên spotify, tất cả ùa về theo những bản nhạc của nhân vật chính, của cô bé 13 tuổi nghe, Pink Floyd, Talking Heads, Styx, Ray Charles… trời ơi, nội điều đấy thôi đã khiến tôi thích tiểu thuyết này rồi, như thể tai mê mẩn anh chàng giết người hàng loạt Patrick Bateman trong American Psycho chỉ vì a chàng có gout nhạc cũng như a chàng còn mổ xẻ nhạc của Genesis và Phil Collins nữa. Với một người nghe nhạc suốt ngày thì việc đọc trang nào cũng thấy có nhạc là một điều gì đó vô cùng thú vì, tôi luôn tự hỏi giờ họ nghe Ray Charles, the Rolling Stones, sau trang tiếp theo họ nghe gì nhỉ? Coltranes, Louis Amstrong, Deep Purple… Thật tuyệt khi không có internet, iphone, Ipad xét ở một khía cạnh nào đó, vì khi đó người ta có rất ít thứ để giải trí và thường tâm trí và tinh thần sẽ dành rất nhiều thời gian cho âm nhạc, và đặc biệt là sẽ tập trung nghe một album hay một bản nhạc nào đó rất rất nhiều lần, điều này có thể gây nhàm chán, nhưng cũng có thể khiến bài hát có cơ được thẩm thấu thực sự từ giọng của ca sĩ, lời bài hát, thậm chí cả tiếng kèn Trombone cũng được thính giác lưu nhớ. Ví dụ như tôi sẽ thuộc lời được bài hát dài hơn 14 phút của Avantasia “The Seven Angels” mà tôi vô cùng yêu thích nhưng k đủ rãnh nhớ trên não để lưu hết lời.

Nhưng đừng liên hệ tên tiểu thuyết với các bản nhạc, nhảy ở đây và khiêu vũ có vẻ mối liên kết khá mỏng manh, Nhảy ở đây giống như những bước nhảy theo hệ quy chiếu không gian và thời gian hơn, Nhảy giữa thực tại và thế giới bên trong anh (nhân vật chính) nơi người Cừu tồn tại, cái thế giới mà mọi sợi dây liên hệ với cuộc sống hiện tại điều tập trung ở đấy như một nút thắt như “tổng đài” để gắn kết những thứ tưởng như chẳng liên quan lại với nhau. Nhảy giữa những điểm không gian về mặt địa lý, Sapporo, Tokyo, Hawaii, Hakone. Không phải như kênh radio của Anathema đang nhảy theo một tần số vô định Pain of Salvation, Opeth, the Gathering… Tôi hiểu vậy không biết đúng không? Và như mọi thứ mơ hồ trong chuyện thì chắc đúng thôi, một cách mơ hồ.

Một cuộc du hành của nhân vật chính với những bước nhảy qua những điểm mỏng manh của không gian và thời gian, khách sạn Cá Heo, đường phố ở Honolulu, đôi mắt cô bé 13 tuổi, cô gái điếm có đôi tai đặc biệt, để đưa anh về với Yumioshi – cô lễ tân khách sạn có cái tên hiếm như tên của nhân vật nữ Aomame trong 1Q84 vậy, vậy là nếu nhân vật thiếu đi nét đặc biệt trong tính cách thì sẽ luôn có điều gì đó khác đặc biệt thậm chí chỉ là cái tên – người mà anh đã có những cảm giác không đơn thuần từ lần gặp đầu tiên ở khách sạn Cá heo. Mọi thứ bắt đầu từ khách sạn đó và kết thúc cũng ở đó như một chu kì hay đúng hơn là như những vòng tròn bí ẩn ở nước Anh qua một mê cung những mối quan hệ, những sợi chỉ bị rối tưởng như không thể tìm được đầu mối để tháo ra. Mọi thứ tưởng như rời rạc nhưng thực chất mọi thứ đều có duyên để khởi lên những hệ quả, kết quả hay đơn giản là bước tiếp trong một bàn cờ người mà anh đại diện như một quân đen hoặc quân trắng trong cờ vây. Anh phải tự đặt mình vào bàn cờ, vào một điểm nào đó để khóa vòng lại, để những thứ mơ hồ trở nên rõ ràng, để anh tìm ra được điều mà anh đang đau đáu tìm, đang được dẫn dắt bởi những hình dung mở nhạt.

Không quá nặng nề, nhiều chữ và mang nhiều lớp nghĩa khó hiểu như những tác phẩm lớn của ông như “Kafka bên bờ biển”, “biên niên kí…” hành trình của nhân vật chính lần này mang đầy chất siêu thực nhưng chỉ như bức tranh của Salvador Dali được vẽ khi ông đang bị vợ mắng, nên không quá khó hiểu, khó theo dõi, những mỗi liên kết đơn giản hơn nhiều, nỗi cô đơn của mỗi cá nhân không nặng nề và dằng xé như “rừng Nauy”, tình dục bản nhạc riêng mà Murakami sáng tác tiết chế khá vừa phải, như một bản phối lại an toàn khi cover lại nhạc của Black Sabbath. Có lẽ vì thế mà khá nhiều sạn, khá nhiều những điều phi logic trong một tập hợp phi logic sẵn có nhưng hợp lý, có những thứ thêm vào dường như hơi thừa, và nhiều câu hỏi bị bỏ ngỏ sau cái kết không được thỏa mãn. Hay tác giả cố tình thế để người ta nghĩ, hoặc giả tác giả biết rằng đang đưa người đọc vào một mê cung vốn vô cùng phức tạp của lòng người, vậy há cứ phải rõ rằng rằng 1+1=2 sao? Nhưng tôi vẫn thích 1+1=2 + 1 hàm entropy tuyến tính theo thời gian hơn là một hàm phi tuyến. Nói vậy chứ tôi khá thỏa mãn với cuốn tiểu thuyết này vì lẽ gì thì đã trình bày ở trên, thêm nữa là vì tôi đã có nhiều cảm xúc để viets được rất dài thế này.

“Nhưng công bằng trong quan hệ tình dục thì có ý nghĩa gì chứ? Nếu thứ ta muốn là sự công bằng, cuộc sống tình dục của ta sẽ chỉ thú vị như tảo mọc trong bể cá mà thôi”.

Siddhartha

Tôi đọc xong Siddhartha của Hesmann Hesse và không hề có ý định dám viết review về cuốn sách này, nó thực sự quá tầm với, quá sức hiểu biết và quá khả năng nhận thức còn nông cạn của tôi. Nhưng tôi có những cảm xúc, những cảm xúc mãnh liệt muốn được chút vào những từ ngữ – thứ mà vốn sẽ làm sai lệch đi ít nhiều sự ngộ về cuốn sách.

Ban đầu trước khi đọc tôi bị ngộ nhận rằng đây là một quyển sách nói về cuộc đời Đức Phat Thích Ca Mâu Ni. Nhưng chỉ là ngộ nhận, mặc dù câu chuyện xảy ra cùng thời điểm Đức Phật tại thế và cũng tại chính quê hương Ấn Độ của người, nhưng lại nói về một cuộc đời khác, hay nói đúng hơn là nói về một cuộc đời đã làm thế nào để đạt tới sự an tịnh của tâm hồn, sự thanh thản của cõi lòng, sự thông tuệ vô cùng về cuộc sống.

Cuộc đời của Siddhartha, từ khi còn là một thieeus niên trong gia đình Bà La Môn đầy thức giả cho đến khi trở thành một lão lái đồ với sự thông tuệ, an tịnh và rộng rãi là một cuộc đời kì lạ của những trải nghiệm, những thay đổi trong tư duy, trong cách nhìn nhận về cuộc sống, mỗi một bước ngoặt trong cuộc đời là một Siddhartha chết đi và hồi sinh một Siddhartha mới với những tư duy về cuộc sống và mục đích sống mới.

Một người Bà La Môn trẻ tuồi, từ bỏ gia đình, từ bỏ cuộc sống thương ngày để đi theo những người tu hành sa môn sống kham khổ tập nhịn đói, tập ngủ trong rừng để rồi một ngày chợt nhận thấy sự vô nghĩa khi cố gắng chối bỏ cuộc sống thực tại để tìm đến những sự an bình ngắn ngủi của sự nhẫn nại, khả năng chịu đói khát… như một kẻ say rượu tìm thấy sự khoái lạc trong chén rượu say, kẻ đàng điếm tìm thấy khoái lạc trong dục vọng ngắn hèn… Anh bỏ đi, tìm đến một thế giới khác, thế giới hoan lạc, thế giới mà trong đó người ta sống một cuộc sống trẻ thơ với những dục lụy xoay tròn. Anh nhận cô gái điếm yêu kiều Kamala làm thầy để học nghệ thuạt yêu đương, học nhà buôn Kawaswami nghệ thuật buôn bán, ban đầu anh coi khinh, anh tham gia vào vòng quay của dục vọng, tính toán nhỏ nhen với tâm thế của một kẻ bề trên, coi thường tất cả nhưng rồi với bản chất của con người anh bị dục vọng lôi kéo, bi cuốn vào canh bạc xúc xắc, bị những tham sân si chiếm trọn tâm hồn. Anh không còn là Siddhartha – người sa môn với sự nhẫn nại, khả năng chịu đói nữa… Khi nhận ra bản ngã của mình đang kéo mình xa khỏi con đường mà anh đã đang đi để tìm kiếm sự an lạc, hanh phúc thì a tìm đến với dòng sông để mong thoát khỏi cái thân xác phàm trần của mình… Khi đó anh nghe thấy tiếng của dòng sông nói với mình….

Câu chuyện của ông, về một người ngộ ra chân lý mà Đức Thích Ca Mâu Ni truyền dậy cho chúng sinh để đạt được sự thoát ngã, tìm đến cõi Niết Bàn, cõi an tịnh, xóa bỏ mọi tham sân si nhưng không đi theo con đường của Đức Phật, không chìm đắm trong những bài giảng của Người, mà ông nhận ra rằng từ ngữ không bao giờ có thể truyền đạt được trí huệ, khi dụng từ ngữ để nói đến sự thông tuệ mà những bậc thánh nhân đã ngộ ra được thì chỉ là sự gàn dở để rồi từ sự mâu thuẫn trong nhận thức đấy, ông đã quyết định đi con đường của mình để tìm đến sự khai sáng cho tâm hồn, để khiến mình thực sự tim được nguồn an tịnh trong cuộc sống.Và Siddhartha đã giác ngộ bên dòng sông. Cái tên Ấn Độ xuất phát từ tên con sôgn Ấn có lẽ vì thế dòng sông có một ý nghĩa linh thiêng với người Ấn Độ, họ tắm trên sông Hằng mong được gột rửa mọi tội lỗi, mọi nghĩ lễ thờ cúng đều lấy nước sông Hằng thêm nữa những người chết đều được mong hỏa thiêu dọc hai bên sông (mà nếu không có điều kiện để họa thiêu thì thường họ sẽ đặt xác hai bên sông luôn, bác mình đi Ấn Độ về bị choáng vì sự bẩn thỉu, mùi xú uế và những mảnh xác chết vương vãi đầy bên sông, bên những người sống đang tắm dưới sông 😦 ).Có lẽ chính vì thế, Hermann Hesse đã để Siddhartha ngộ ra tính nhất thể của vạn vật, tìm thấy chân lý mà về bản chất cuộc sống bên dòng sông cùng với người lái đò già giản dị luôn biết cách lắng nghe dòng sông.

Hermann Hesse đã cho tôi thấy được, bản chất của cuộc sống không thể đi tìm trong những kiến giải, trong tri thức đồ sô của nhân loại, không thể nghe theo một tín điều nào đó, không thể cứ suy tư và nhẫn nại. CUộc đời tự nó cứ trôi và nếu bản thân ta không tự đi theo cuộc đời của chính bản thân ta, ném ta vào chính bản chất của mình mà để một ý tưởng, một khái niệm lôi kéo thì maĩ mãi ta không thể nhận ra được bản chất của cuộc sống, không thể hài lòng mãn nguyện, không thể tự mình điều hòa với bản ngã của chính mình. Chúng ta phải trải nghiệm qua mọi thứ của cuộc đời để có cặp mắt khoan dung với đồng loại, để thêm yêu mọi sự vật, để biết lắng nghe, không chỉ dòng sông mà từ hòn đá, cỏ cây, mọi sự vật bản thân nó đều có thể là người, là con vật… sự nhất thể của vạn vật là ngộ tính cuối cùng mà Siddhartha đã nhận được và anh đã cho người bạn trung thành thưở thiếu niên Govinda chứng nghiệm.

Into the wild – Khi ta đào thải xã hội

Xét theo bối cảnh xã hội hiện nay, khi người trẻ cứ phải loay hoay đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình thì một bộ phim như Into the wild thực sự đem lại nhiều cảm hứng. Và đối với tôi thì nó mang lại còn nhiều ý nghĩa hơn đơn thuần là một nguồn cảm hứng.
Một trong số ít bộ phim hay và tâm đắc mà tôi đã xem lại nhiều lần và đặt thật nhiều suy nghĩ cho nó.

Con người và tự nhiên

Tự nhiên có trước khi loài người xuất hiện, nó là khởi nguồn của mọi sự sống từ những sinh vậy bậc thấp nhất đến con người. Tự nhiên chính là dòng máu nóng chảy trong huyết quản. Tự nhiên chính là cuộc sống. Nhưng con người đang dần dần như một loài virus (the Matrix) xâm chiếm tự nhiên, tàn phá tự nhiên, giết dần giết mòn đi người mẹ đẻ ra mình. Sự hoà hợp của một giống loài sinh ra và tự nhiên đã không còn đúng nữa khi áp dụng cho loài người. Con người không còn dựa vào tự nhiên để sinh tồn, con người chiếm lĩnh tự nhiên, ăn cướp tự nhiên và mặc nhiên cho mình cái quyền không phải trả lại. Xem thời sự, đọc báo mới thấy được sức tàn phá khủng khiếp của con ngưòi mà đau đớn thay cho đất mẹ. Chính vì vậy mà những thước phim tuyệt đẹp trong “Into the wild” gợi lại một tự nhiên hài hoà, xinh đẹp nhưng không kém phần hung vĩ và diễm lệ.

Trong suốt cuộc hành trình của mình, Alex đã khám phá tự nhiên bằng cách nguyên sơ nhất, bằng chính sức lực của bản thân mình, những bãi biển thô sơ với sóng lớn, những đỉnh núi cao trơ trọi, dòng song to lớn và giận dữ nhưng đủ hiền hoà nếu con người xuôi theo hài hoà với tự nhiên. Xem phim, tôi có cảm giác như chính mình đang trong cuộc phiêu lưu đó với tự nhiên, sự choáng ngợp nhưng gần gũi đến mát rượi, sự tự do và hào sảng. Không chỉ có tự nhiên thuần tự nhiên, mà còn là tự nhiên của sự hoà hợp với con ngưòi đó là cánh đồng lúa mình trải rông ngút tầm mắt vô cùng xinh đẹp nơi cuộc sống của con người ngỡ là những giấc mơ không cùng về sức lao động kì diệu của con người, là bãi biển tắm nude của những kẻ bị cho là “lập dị”. Tự nhiên ở đây qua con mắt của Alex là sự dung hoà giữa sự sâu sắc và biết ơn của con người và vẻ đẹp thô mộc nhất của đất mẹ, là sự sẻ chia và hoà quyện lẫn nhau.

Alex đã khám phá tự nhiên bằng chính bản năng sống của mình, bằng đôi chân, đôi tay và khối óc: “I read somewhere… how important it is in life not necessarily to be strong… but to feel strong.” Anh đã tạo được một sức mạnh tinh thần mạnh mẽ để đi trên chính ước vọng của mình. Anh kiếm sống bằng đôi tay mình chứ không phải bằng những đồng tiền của bố mẹ, anh chống chọi với tự nhiên bằng sự trau dồi kiến thức, sự học hỏi không ngừng nghỉ. Đấy là một cách tiếp cận tự nhiên nguyên sơ nhất mà không phải ai cũng có thể và dám làm.

Vẻ đẹp của bối cảnh phim còn được tô điểm bởi nền âm nhạc tuyệt vời. Âm nhạc của phim thoát ra đơn giản đến ngỡ ngàng nhưng mang lại nhiều xúc cảm vô cùng cho người xem đi theo những bước chân của Alex, những bản folk music vang lên dậm dạt theo tiếng song biển vỗ vào sườn đá, theo bước chân Alex trên những con đường quốc lộ dài vô tận, dập dờn qua tiếng guitar của Tracy Trato (so với vai diễn ngớ ngẩn trong 2 phần Chạng Vạng thì vai diễn này của Kristen Stewart thực sự hút hồn tôi)… Một hành trình dài và cô độc không thể không có âm nhạc, có thể Alex không nghe thấy những giai điệu đó một cách cụ thể như người xem, nhưng tôi tin chắc ở mỗi bước chân của anh trên hành trình của mình, một nốt nhạc sẽ phát lên trong long của anh, đấy là âm nhạc tuyệt vời nhất để níu giữ anh trên những chẳng đường bất tận.

Con người và xã hội

Điều gì mang lại cho anh cái quyết định tưởng chừng như có phần cực đoan là đi một mình hoà vào tự nhiên nguyên sơ như thế? Chính là xã hội. “Society, society”, những tiếng gào lên của Alex mang đầy vẻ dè bỉu và khinh thường. Cái xã hội, giữa và chỉ giưũa con người với nhau đầy những lọc lừa, dối trá và độc ác đó chính là lý do khiến cho những trái tim nhạy cảm và đầy tình yêu như anh bị tổn thương một cách sâu sắc và khó có thể dung hoà được. Alex có một tương lại rộng mở với kết quả học tập loại ưu, một gia đình giàu có và một xã hội vô cùng năng động. nhưng đằng sau vẻ hào nhoáng của những chiếc xe hơi bong lộn dường như trong mắt anh là cả một hệ thống lừa dối, mà thậm tệ nhất chính là sự dối trá của gia đình, nơi thân yêu nhất nhưng lại đậm sự coi trọng giá trị vật chất nhất. Chính vì ngay trong một xã hội thu nhỏ là gia đình đầy những sự che giấu và giả dối đó mà anh đã cảm thấy mất niềm tin và sợ hãi cái xã hội anh đang sống. Và cái cách anh chọn để sống đúng với chính bản thân mình, một cách tự do trong một không gian nơi mà người ta không phải dung trí óc quá nhiều để đối phó lẫn nhau. Anh đã đi vào hoang dã.

Trong suốt hành trình của mình, anh không chỉ tiếp cận với tự nhiên nguyên sơ mà dường như anh còn được tiếp cận với con ngưòi với tấm long nguyên sơ và chân thật: cô chú Rainy, cô bé Tracy, ông già Ron… Thật không có gì ngạc nhiên khi những con ngưòi thuần nhất và đơn giản đó lại sống trong một tỉnh lẻ nhỏ bé, hay trên những chuyến xe du mục hay cô độc một mình, vì có lẽ chỉ có họ, những cá thân sống tách xa những dô thị lớn, đầy màu sắc hào nhoáng thì mới không bị chi phối bởi cuộc sống vật chất khiến cho trái tim bị biến dạng và thay đổi màu máu. Họ sống bằng bản năng nhưng không phải thứ bản năng của phần sâu thẳm xấu xa Ig Ego mà là bản năng của super Ego như Freud nói. Họ chân thật và đáng yêu, họ sâu sắc và dễ mến, họ đầy tình yêu thương và vui tính. họ tự nhiên như chính tự nhiên vậy. Có lẽ vì vậy mà một cậu trai đô thị như Alex, dám từ bỏ tất cả để tìm ý nghĩa cuộc sống đã khiến họ vô cùng thích thú và tò mò rồi từ đấy, họ yêu Alex như chính ngừoi thân của mình vậy, những giọt nước mắt chia ly giữa Alex và họ đầy tình người, mang một sự xúc động sâu xa và hụt hẫng. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao anh không ở lại với cô chú Rainy, anh không yêu để ở bên Tracy, anh không nhận làm con trai của ông lão Ron tội nghiệp. Nhưng nghĩ kĩ lại, thì chuyến đi của anh sẽ trở nên mất đi ý nghĩa nếu a làm như thế. Anh sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời cho mình nếu dừng lại: “HAPPY IS ONLY REAL WHEN SHARED”. Có thể để tìm được ý nghĩa đó, cái giá phải trả quá đắt nhưng xét một cách đau long thì đó là điều không thể tránh khỏi đối với một trái tim dữ dội như Alex.

Anh đã cực đoan với xã hội và liệu tự nhiên có cực đoan với anh? Không, vì bản chất của tự nhiên là sự tự nhiên. Mọi thứ tự nhiên đến và tự nhiên lấy đi, ngưòi ta phải chấp nhận điều đó như chấp nhận số mệnh vậy. Bầu trời xanh trong tuyệt đẹp mà anh nhìn thấy qua của sổ xe bus là điều tuyệt vời nhất nhưgn cũng đau đớn nhất mà anh nhận được trong suốt hành trình của mình. Đó là bầu trời của tự do, bầu trời của ý nghĩa cuộc sống, bầu trời của sự thanh thản, bầu trời thanh trong của sự trong sang của thiên nhiên… Tôi, những người trẻ được may mắn (có lẽ vì kém thong minh, quyết tâm và cực đoan hơn anh) được chiêm ngưỡng cái bầu trời đó của anh chỉ đơn giản bằng màn hình tivi, nhưng cũng thấu hiểu một cách sâu sắc mà nó mang lại. Cái thấu hiểu về ý nghĩa cuộc sống, về niềm tin dành cho xã hội, về vai trò của mình trong xã hội, về cách tiệm cận với mặt trái của xã hội bằng con mắt dò xét hoài nghi nhưng không cực đoan, về vai trò của mình với thiên nhiên, trách nhiệm của mình với thiên nhiên và cách thức hoà nhập với thiên nhiên…

Xã hội là một cuộc sống 2 mặt và khi những người trẻ chỉ nhìn vào khía cạnh tiêu cực của nó như anh thì có lẽ chúng ta cần ném mình vào tự nhiên một cáhc hoàn toàn để sống, nhưng nhờ anh, nhờ cách mà anh hành động, nhờ ý nghĩa mà anh tìm ra trong suốt 2 năm rong ruổi của mình, chúng ta hiểu, hạnh phúc là sự sẻ chia, là tình người, là nước mắt… Chúng ta hiểu và hành động theo cách bớt tiêu cực hơn và bớt sự nuối tiếc hơn. Ai cũng thế, những người trẻ khi xem phim này đều tâm đắc và thực sự them muốn hành trình đó của anh, nhưng tôi tin ai cũng muốn chọn một kết cục khác cho mình, vì chúng ta đã có một người dũng cảm như anh làm trước. Chúng ta cần trải nghiệm để yêu thiên nhiên hơn, sống ý nghĩa hơn và có trách nhiệm hơn với gia đình và xã hội…

Một điều nữa là Emile Hisch quá tốt, khuôn mặt anh vừa ngây thơ, vừa từng trải, vừa cương quyết nhưng cũng giàu tình thương. Rất thích anh trong phim này và phim The Girl next door :d
Bài review có rất nhiều quan điểm riêng của tôi, nên ai không đồng ý thì cũng không cần tranh luận vì quan điểm riêng thì khó có thể sửa đươc đặc biệt là một người cứng đầu như tôi. Rất cảm ơn đã đọc hết bài viết vừa dài và thiếu chiều sâu này của tôi và mong đuợc chia sẻ cảm xúc của bạn về bộ phim mà tôi rất thích này.